Tiêu chuẩn nghiêm ngặt của đậu bắp xuất đi Nhật

Để đảm bảo tiêu chí xuất khẩu Nhật Bản, đậu bắp phải trải qua 4 lần phân loại quả, 3 lần kiểm tra cùng nhiều yêu cầu khắt khe khác.

Tại nhà máy chế biến thủy sản Bạc Liêu, mỗi ngày có khoảng 25 tấn đậu bắp tươi chở về từ An Giang, Vĩnh Long được đưa vào sơ chế, cấp đông phục vụ xuất khẩu Nhật Bản.

Anh Tăng Hiếu Nghĩa – quản lý chất lượng tại nhà máy Chế biến Thủy sản Bạc Liêu cho biết, trong số những tiêu chí khắt khe của sản phẩm, chỉ tiêu về vi sinh là quan trọng nhất. Đối tác có thể lấy mẫu ngẫu nhiên kiểm tra đòi hỏi 100% sản phẩm tại nhà máy phải đáp ứng yêu cầu.

Sản phẩm đậu bắp tại nhà máy chế biến. Ảnh: Hương Giang

Sản phẩm cung ứng đi thị trường Nhật Bản khó tính nên đòi hỏi nghiêm ngặt từ giống, kỹ thuật chăm sóc, thu hái tới chất lượng. Để có đủ nguyên liệu đậu bắp, doanh nghiệp đã liên kết với người trồng tại An Giang, Vĩnh Long.

Anh Nghĩa cho biết, Vĩnh Long từ tháng 7 đến tháng 10 gặp mùa nước, khó trồng hơn khiến doanh nghiệp phải tìm thêm cơ sở tại An Giang.

Những vùng đất này trước kia bà con trồng cây ngắn ngày như ớt, dưa leo, hoa huệ sau đó mới chuyển đổi sang đậu bắp. Để thuyết phục nông dân tham gia mô hình liên kết, doanh nghiệp đã cung ứng giống, hướng dẫn kỹ thuật trồng cho năng suất và không tồn dư hóa chất, bao tiêu đầu ra với giá cam kết.

Ban đầu, doanh nghiệp mượn đất trồng thử nghiệm. Sau một vài vụ, thấy mô hình đem lại hiệu quả kinh tế, nhiều bà con bắt đầu tham gia, dần dần nâng tổng diện tích vùng nguyên liệu lên khoảng 150ha.

Dây chuyền rửa đậu bắp trước khi đưa vào sơ chế và hấp. Ảnh: Hương Giang

Theo anh Nghĩa, gây dựng vùng nguyên liệu là một trong những giai đoạn khó khăn nhất trong sản xuất. Anh nhớ lại, có thời điểm, cây đậu bắp bị thương lái Trung Quốc cạnh tranh phá giá, nhiều hộ đang hợp tác với công ty quay ra bán cho thương lái.

Người thu mua của công ty đến tận nhà thuyết phục nhưng nông dân không nghe. Công ty buộc phải cắt hợp đồng với những nông dân hủy kèo. Tuy nhiên, giá lên cao chỉ được 1-2 vụ, sau đó quay trở lại mức thấp. “Khi họ xin quay trở lại, để làm gương cho những hộ khác tôi buộc lòng không đồng ý, từ đó người trồng sợ không dám phá giá nữa. Suốt 8 năm nay chúng tôi đều mua với cùng một giá chưa từng giảm”, anh Nghĩa chia sẻ.

Làm được vùng nguyên liệu ổn định đã khó, các chỉ tiêu sản xuất tại nhà máy phải thực hiện nghiêm ngặt không kém. Từng khâu đều có nhân viên giám sát kiểm tra và theo dõi chặt chẽ.

Nguyên liệu sau khi đưa về kho được chuyển lên dây chuyền phân loại. Tại đây, 5 đến 7 công nhân túc trực mỗi người một công đoạn như loại bỏ quả sai kích cỡ, sai hình dáng, dị vật, chất bẩn… Sau đó, đậu bắp đạt chỉ tiêu được lựa lại lần nữa trước khi đưa vào sơ chế cắt đầu, rửa, hấp, làm lạnh, phân loại rồi mới cấp đông âm 40 độ C trước khi đóng gói.

Đậu bắp cấp đông ở nhiệt độ cấp đông. Ảnh: Hương Giang

Hiện, doanh nghiệp cung ứng khoảng 7 dòng sản phẩm đậu bắp chín gồm đậu bắp nguyên trái, các kiểu cắt lát, xay nhuyễn… Anh Nghĩa cho biết Nhật cũng trồng được nhưng năng suất thấp. Sản phẩm được người Nhật ưa chuộng bởi trong trái đậu bắp có chất nhớt tốt cho xương khớp.

CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT !

KỸ THUẬT BÓN PHÂN CHO CÂY SẦU RIÊNG

KỸ THUẬT BÓN PHÂN CHO CÂY SẦU RIÊNG

(ÁP DỤNG CHO VƯỜN SẦU RIÊNG GIAI ĐOẠN KINH DOANH)

* Khi vườn sầu riêng đã thu hoạch xong: không bón phân trong 10-15 ngày sau thu hoạch, chỉ xử lý vôi nấm bệnh với liều lượng 2-3kg/cây. Tưới nước đầy đủ cho cây. Có thể kết hợp bón phân hữu cơ lót cho vườn.

* Giai đoạn sau 10-15 ngày sau thu hoạch đến ra cơi 1: tiến hành bón phân cho vườn, bón kết hợp vừa bón gốc vừa phun qua lá, liều lượng bón như sau:

Bón gốc: 200g Canxi Nitrat + 100g Magiê Nitrat+ 200g phân DAI 25-25-5+TE bón cho 1 gốc (có thể bón dạng bột xuống gốc hoặc pha loãng với nước tưới cho hệ thống tưới rễ, liều lượng pha 1:200 (1kg pha cho 200 lít nước) – Bón 4-5 lần/1 cơi đọt.

Phun qua lá: 2kg phân DAI 25-25-5+TE + 250ml PBL Lưỡi liềm vàng pha với 200 lít nước tưới qua lá cho 1000m2. (có thể pha với thuốc BVTV để tưới qua lá) – phun định kỳ 5-7 ngày/lần đến khi ra cơi 1. Thông thường phun 3-4 lần.

* Giai đoạn sau cơi 1 đến ra cơi 2: (bón giống cơi 1).

* Giai đoạn sau cơi 2 đến ra cơi 3 và trổ bông: tiến hành bón phân cho vườn, bón kết hợp vừa bón gốc vừa phun qua lá, liều lượng bón như sau:

Bón gốc: 200g Canxi Nitrat + 100g Magiê Nitrat+ 200g phân DAI 30-10-10+TE bón cho 1 gốc (có thể bón dạng bột xuống gốc hoặc pha loãng với nước tưới cho hệ thống tưới rễ, liều lượng pha 1:200 (1kg pha cho 200 lít nước) – Bón 3 lần.

Phun qua lá: 2kg phân DAI 30-10-10+TE + 250ml PBL Lưỡi liềm vàng pha với 200 lít nước tưới qua lá cho 1000m2. (có thể pha với thuốc BVTV để tưới qua lá) – phun định kỳ 5-7 ngày/lần đến khi ra cơi 1. Thông thường phun 3-4 lần.

Đến khi cơi 2 già và thấy bắt đầu lú đọt non, bón bồi  vào mỗi gốc 3-4kg Super lân + 100g phân DAI 25-25-5+TE, bón xong cho cây nghỉ 10 ngày, giai đoạn nghỉ này chỉ tưới nước.

Đến khi cơi đọt lụa xuất hiện, tiến hành bón để tạo mầm hoa: tưới 1 gốc 200g Canxi Nitrat + 200g phân DAI 5-25-25+TE, sau tưới gốc tiến hành đậy bạt phủ gốc,  kết hợp phun qua lá 250g DAI 10-50-10+TE kích bông pha thành 200 lít nước phun cho 1.000m2 phun tổng số 2 lần cách nhau 7 ngày.

Chờ 2530 ngày cây bắt đầu ra bông, khi bông vừa lú phun kết hợp phân bón lá Canxi Bo.

Khi bông lớn bằng đầu đũa, cho dỡ bạt phủ gốc, tưới ngay 1 lần duy nhất 2kg phân DAI 30-10-10+TE + 250ml PBL Lưỡi liềm vàng pha với 200 lít nước tưới gốc cho 1.000m2, giúp cây phục hồi.

10 ngày sau, tưới 2kg phân DAI 5-25-25+TE + 250ml PBL Lưỡi liềm vàng pha với 200 lít nước tưới gốc cho 1.000m2, tưới 3 lần, cách nhau 7 ngày tưới 1 lần.

Đến khi trái non bằng ngón tay út, bón kết hợp bón gốc và phun trên lá

Bón gốc: bón mỗi gốc 800g-1kg Canxi Nitrat hạt, bón 2 lần cách nhau 15 ngày bón 1 lần.

Phun trên lá: pha 1kg phân DAI 19-7-22+TE + 1kg phân DAI 5-25-25+TE 250ml PBL Lưỡi liềm vàng pha với 200 lít nước tưới qua lá cho 1000 m2. (có thể pha với thuốc BVTV để tưới qua lá), phun định kỳ 7 ngày/lần đến khi thu hoạch.

Biên soạn:  Ths. Trần Công Hiền

Liên hệ Cty TNHH Nguồn Sinh Thái
Hotline: 0916.888.300

CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT !

Hướng dẫn quy trình bón phân cho cây dưa lưới đạt năng suất cao

Kỹ thuật canh tác dưa lưới trong nhà màng theo hướng ứng dụng công nghệ cao

Dưa lưới là cây trồng mới phổ biến trong gần 10 năm trở lại đây và đã được nhiều địa phương trong cả nước canh tác. Tuy nhiên đây vẫn là cây trồng mới, và nguồn cung cấp chưa đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường vì nhiều lý do khách quan, trong đó có yếu tố kỹ thuật và phòng ngừa sâu bệnh hại.

Hiện nay Dưa lưới được chọn là cây trồng “tiêu chuẩn” để canh tác trong nhà màng, nhà lưới, nhà kính theo hướng ứng dụng công nghệ cao trong cả nước vì những lý do sau:

– Dưa lưới là cây trồng ngắn ngày mang lại hiệu quả kinh tế cao, giá cả ổn định, năng suất canh tác  cao trên một đơn vị diện tích trong nhà màng.
– Khi trồng trong nhà màng thì sẽ hạn chế được sâu bệnh hại vì các cây trồng thuộc họ Dưa thường rất dễ bị sâu bệnh khi gặp điều kiện bất lợi. Đặc biệt là thời kỳ đậu quả vì quả Dưa lưới có mùi thơm và vị ngọt rất hấp dẫn côn trùng. Nếu canh tác theo kiểu truyền thống (ngoài đồng ruộng) thì rất khó kiểm soát được sâu bệnh hại và tốn kém chi phí đầu tư thuốc BVTV để phòng, trừ.
– “Nắng tốt dưa, mưa tốt lúa”, vì vậy canh tác các cây họ Dưa chỉ phù hợp vào mùa khô, còn mùa mưa thì không thuận lợi. Tuy nhiên việc canh tác trong nhà màng sẽ khắc phục được nhược điểm này vì chủ động được thời tiết, không quá lệ thuộc vào tự nhiên (mùa mưa vẫn trồng được). Do đó đảm bảo quá trình sản xuất được liên tục, không theo mùa vụ như lối canh tác truyền thống.

Tuy nhiên, đây vẫn là cây trồng khá mới mẻ đối với nhiều người dân. Do đó đòi hỏi phải nắm bắt được kỹ thuật canh tác thì mới mang lại hiệu quả kinh tế cao. Sau đây là những kỹ thuật canh tác cây Dưa lưới trong nhà màng.

Giai đoạn tuổi và phân bón cho cây dưa lưới:

GIAI ĐOẠN 1: 0 – 20 NGÀY TUỔI

Dùng 1kg Phân DAI 30-10-10+TE + 500g Trung lượng ECO  + 200 ml BIORICH pha loãng với 1.000 lít nước dùng để tưới.

Lượng nước sử dụng:

  • 0-10 ngày tuổi: tưới 0,6 lít/ngày
  • 10-20 ngày tuổi: 0,9 lít/ngày

Nhằm nâng cao chất lượng dưa lưới nên kết hợp sử dụng PBL Lưỡi Liềm Vàng 5-5-5+TE+10AH phun qua lá: liều lượng 500ml LLV pha với 200 lít nước phun qua lá, định kỳ 1 tuần phun 1 lần.

GIAI ĐOẠN 2: CÂY TỪ 20 – THỤ PHẤN

1kg Phân DAI 20-20-15+TE + 1 kg Trung lượng ECO + 200 ml BIORICH pha loãng với 1.000 lít nước dùng để tưới.

Lượng nước sử dụng:

  • Trời âm u: 0,9 – 1,2 lít/ngày
  • Trời nắng: 1,2-1,5 lít/ngày

Nhằm nâng cao chất lượng dưa lưới nên kết hợp sử dụng PBL Lưỡi Liềm Vàng 5-5-5+TE+10AH phun qua lá: liều lượng 500ml LLV pha với 200 lít nước phun qua lá, định kỳ 1 tuần phun 1 lần.

GIAI ĐOẠN SAU THỤ PHẤN ( NUÔI TRÁI)

1kg Phân DAI 19-7-22+TE + 1 kg Trung lượng ECO + 200 ml BIORICH pha loãng với 1.000 lít nước dùng để tưới

Lượng nước sử dụng:

  • Trời âm u: 1,5 – 1,9 lít/ngày
  • Trời nắng: 1,9 – 2,5 lít/ngày

Nhằm nâng cao chất lượng dưa lưới nên kết hợp sử dụng PBL Lưỡi Liềm Vàng 5-5-5+TE+10AH phun qua lá: liều lượng 500ml LLV pha với 200 lít nước phun qua lá, quả định kỳ 1 tuần phun 1 lần.

GIAI ĐOẠN TRƯỚC THU HOẠCH 10 NGÀY

1kg Phân DAI 5-25-25+TE + 500g Trung lượng ECO + 200 ml BIORICH pha loãng với 1.000 lít nước dùng để tưới

Lượng nước sử dụng:

  • Trời âm u: 1,5 – 1,9 lít/ngày
  • Trời nắng: 1,9 – 2 lít/ngày

Nhằm nâng cao chất lượng dưa lưới nên kết hợp sử dụng PBL Lưỡi Liềm Vàng 5-5-5+TE+10AH phun qua lá: liều lượng 500ml LLV pha với 200 lít nước phun qua lá, quả, phun trước thu hoạch 1 tuần.

GHI CHÚ: LƯỢNG PHÂN PHỐI TRỘN THEO TỈ LỆ Ở CÁC GIAI ĐOẠN HÒA TAN VÀO NƯỚC RỒI TƯỚI HẰNG NGÀY CHO CÂY.

BIÊN SOẠN: Ths. Trần Công Hiền

Liên hệ Cty TNHH Nguồn Sinh Thái
Hotline: 0916.888.300

CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT !

Kỹ thuật trồng dưa lưới ứng dụng công nghệ cao với giá thể xơ dừa

Sản xuất và tiêu thụ rau quả trên thế giới và tại Việt Nam không chỉ quan trọng về mặt kinh tế mà còn là vấn đề sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người tiêu dùng. Đặc biệt những loại rau ăn quả mang lại giá trị kinh tế to lớn và thúc đẩy các hướng nghiên cứu mà dưa lưới là một trong số đó.

Dưa lưới thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae) là rau ăn quả có thời gian sinh trưởng ngắn, trồng được nhiều vụ trong năm với năng suất khá cao; có nguồn gốc từ Ấn Độ và châu Phi; Ai Cập là nơi trồng đầu tiên, sau đó là Hy Lạp, La Mã. Hiện nay dưa lưới được trồng khắp nơi trên thế giới, chủ yếu bán tươi và được xem là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao. Không những thế, thành phần của dưa lưới có chứa chất chống oxy hóa dạng polyphenol, có khả năng phòng chống ung thư và tăng cường hệ miễn dịch, nhiều chất xơ nên có tác dụng nhuận trường, chống táo bón và là nguồn phong phú beta-carotene, acid folic, kali và vitamin C, A giúp điều hòa huyết áp, ngừa sỏi thận, lão hóa xương, …
Ở nước ta, hiện có nhiều loại dưa lưới. Ngoài các giống dưa lưới truyền thống được trồng từ lâu như dưa trắng Hà Nội, dưa mật Bắc Ninh, dưa vàng Hải Dương trái nhỏ, thơm, ngọt, thì những năm gần đây, Công ty Giống cây trồng Nông Hữu đã đưa vào sản xuất một số giống lai F1 nhập nội cho năng suất cao (35 tấn/ha), thơm ngon, độ đường (Brix) cao từ 15-18 độ, quả to, màu sắc phong phú, chống chịu một số bệnh nứt dây và thối vi khuẩn. Chu Phấn và Taki là hai giống đã được khảo nghiệm và đánh giá phù hợp với điều kiện nhà màng. Taki có độ Brix cao, có khả năng kháng bệnh tốt hơn nên được khuyến khích trồng nhiều hơn. Một số giống dưa lưới được lai tạo phổ biến như Dưa Vân là dưa ưu thế lai F1 do Công ty Vimorint Cộng hòa Pháp lai tạo và sản xuất; dưa lưới Hami (Cucumis melo var. saccharinus) có nguồn gốc từ Tân Cương, Trung Quốc…
Một số giống dưa lưới phổ biến tại Việt Nam 

Công nghệ trồng dưa lưới của Khu Nông nghiệp Công nghệ cao TP.HCM

Dựa trên những kết quả nghiên cứu của thế giới về chế độ dinh dưỡng, kỹ thuật bấm ngọn, chế độ tưới, mật độ trồng, v.v… Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển nông nghiệp Công nghệ cao (thuộc AHTP – Khu Nông nghiệp Công nghệ cao TP.HCM) đã có những nghiên cứu đưa ra quy trình canh tác, đồng thời áp dụng quy trình VietGAP để sản xuất dưa lưới sạch, năng suất gấp 3 thông thường và được các hệ thống siêu thị ưa chuộng. Quy trình trồng dưa lưới tại AHTP nghiên cứu trong nhà màng trên giá thể, áp dụng phương pháp tưới nhỏ giọt đạt hiệu quả cao và sẵn sàng chuyển giao với các khâu căn bản là giống, cây con, giá thể, trồng và chăm sóc.
Chuẩn bị cây con và giá thể
Sử dụng khay ươm cây thường bằng vật liệu xốp (50 lỗ/khay) để gieo hạt. Giá thể gieo hạt là mụn xơ dừa đã được xử lý chất chát (tanin), phân hữu cơ (trùn quế hoặc phân chuồng) đã được xử lý bằng tricoderma và tro trấu phối trộn theo tỷ lệ tương ứng là 70% + 20% + 10%, rồi cho vào đầy lỗ mặt khay và tiến hành gieo 1 hạt/lỗ. Sau đó tưới nước giữ ẩm hằng ngày, khay ươm được đặt trong nhà ươm có che mưa và lưới chắn côn trùng. Khi cây xuất hiện lá thật thứ nhất thì phun phân bón lá Growmore 30-10-10, nồng độ 1 g/lít nước.

Cách vào giá thể trong khay xốp gieo hạt.

Hạt dưa lưới sau gieo 5 ngày.

 
bau-uon-cay-gia-the-xo-duaDạng trồng bằng túi nilon trắng kích thước 40 cm x 40 cm, đục lỗ ở đáy túi. gia-the-xo-dua-trong-dua-luoiDạng trồng luống có kích thước cao 30 cm, rộng 30 cm và dài 20 – 30 m.

 

Trồng và chăm sóc

Nên trồng vào buổi chiều mát, đặt cây nhẹ nhàng để tránh tổn thương cây con, không nén quá chặt, trồng xong phải tưới nước ngay. Mật độ và khoảng cách trồng vào mùa khô là hàng kép kiểu nanh sấu, đạt 2.500-2.700 cây/1.000 m2; mùa mưa trồng hàng kép đạt 2.200 – 2.500 cây/1000 m2.
trong-bang-tui-xo-duaTrồng bằng túi nilon. trong-bang-luong-xo-duaTrồng bằng luống.

Tưới nước: sử dụng giếng khoan hay nước sông suối, pH từ 6 -7, không mặn, không phèn.

Phân bón như KNO3, MgSO4, K2SO4, (NH4)2SO4, Ure, KH2PO4, Ca(NO3)2 thường được hòa vào nước thành dung dịch dinh dưỡng tưới cây, đảm bảo đủ các nguyên tố cần thiết cho sinh trưởng và phát triển là K, N, P, S, Ca, Mg. Dung dịch dinh dưỡng và nước tưới được cung cấp đồng thời qua hệ thống tưới nhỏ giọt có nồng độ phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng theo từng giai đoạn sinh trưởng của cây.

Khi trồng được 7 – 10 ngày, bắt đầu treo dây cố định cây, đến giai đoạn ra hoa tiến hành thụ phấn bằng ong hoặc thủ công. Mỗi cây để lại từ 1 – 4 quả, sau đó tỉa hết cành nách tạo thông thoáng và hạn chế tiêu hao dinh dưỡng. Khi quả có đường kính từ 2 – 4 cm (khoảng 40 ngày sau trồng) thì hãm ngọn để tập trung dinh dưỡng nuôi quả.

ong-thu-phan-dua-luoi ong-thu-phan-dua-luoi1
Sử dụng ong mật thụ phấn cho dưa lưới trồng trong nhà màng.
 
bam-ngon-dua-luoiBấm ngọn chính khi cây được 23 – 25 lá.
bam-ngon-dua-luoi.
Bấm ngọn bên, bấm chừa lại 2 lá.


Loại sâu hại dưa lưới trồng trong nhà màng chủ yếu là bọ trĩ (Thrips palmi Karny) và bọ phấn (Bemisia tabaci). Bọ trĩ phát triển mạnh trong điều kiện thời tiết nóng và khô, gây hại nặng giai đoạn cây con đến ra hoa, đậu trái. Bọ phấn hoạt động vào sáng sớm và chiều mát, hút nhựa làm cây có thể bị héo, ngã vàng và chết; truyền các bệnh virus. Để phòng, trừ có thể dùng bẫy dính; thiên địch nhện nhỏ (Amblyseius cucumber), bọ xít (Orius sauteri và Orius strigicolly), phun thuốc bảo vệ thực vật; vệ sinh vườn trồng, v.v…

bo-tri-hai-dua-luoiThành trĩ (Thrips palmi Karny). bọ-phan-hai-dua-luoiThành trùng Bọ phấn (Bemisia tabaci).

Một số bệnh phổ biến gây hại dưa lưới như bệnh phấn trắng do nấm Erysiphe cichoracearum De Candolle hại lá, thân, cành ngay từ thời kỳ cây con; bệnh sương mai giả do nấm Pseudoperonospora cubensis, gây hại trên tất cả các bộ phận nhưng phổ biến nhất là lá; bệnh nứt thân chảy nhựa do nấm Mycosphaerella melonis, gây hại chủ yếu trên thân, đôi khi trên lá và cuống quả, gây nứt, chảy nhựa, cây có thể bị khô chết. Cách phòng trừ là vệ sinh đồng ruộng, thu dọn sạch tàn dư thân lá bị bệnh, tiêu diệt cỏ dại, mật độ trồng hợp lý, bón phân cân đối N-P-K; phun thuốc kịp thời khi phát hiện bệnh,…

 

benh-phan-trang-tren-dua-luoi
Triệu chứng của bệnh phấn trắng (Erysiphe cichoracearum).
benh-phan-trang-tren-dua-luói
Triệu chứng của Mycosphaerella melonis.
Đánh giá hiệu quả kinh tế
Đánh giá hiệu quả của mô hình trồng dưa lưới trong nhà màng áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt dựa trên kết quả thực tế tính trên 1.000 m2, thời gian của 1 vụ trồng là 70 ngày.
Hai khoản đầu tư quan trọng là cơ sở vật chất:
• Nhà màng: 400.000 đồng/m2 x 1000 m2= 400.000.000 đồng. Khấu hao trong 10 năm.
• Hệ thống tưới nhỏ giọt: 30.000.000 đồng. Khấu hao trong 5 năm.
chi-phi-trong-dua-luoi
(Số liệu thời điểm nghiên cứu nên mang tính tham khảo)
Công nghệ xử lý, đóng gói, bảo quản và chế biến sau thu hoạch 
Dưa lưới chịu nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng về cảm quan cũng như dinh dưỡng, tỉ lệ hư hỏng, thời gian bảo quản sau thu hoạch. Các yếu tố bên trong là do dưa sau thu hoạch vẫn tiếp tục một số quá trình sinh lý, sinh hóa như hô hấp, thoát hơi nước, sản sinh khí ethylene, quá trình chín, nấm bệnh,… làm dưa bị héo, giảm khối lượng chất khô, vỏ, thịt quả mềm đi, không còn độ giòn và có thể bị hư hỏng hoàn toàn; giảm thời gian bảo quan; dễ bị tổn thương cơ học khi vận chuyển đi xa,… Những yếu tố bên ngoài cũng tác động không nhỏ đến thời gian bảo quản và tỉ lệ hư hỏng như nhiệt độ, độ ẩm không khí, hàm lượng oxy, khí ethylene, hàm lượng cacbonic, nấm bệnh, vi khuẩn xâm nhiễm bề mặt.
Để khắc phục, một số biện pháp xử lý trên cây ở giai đoạn cận thu hoạch nhằm nâng cao chất lượng dưa sau thu hoạch. Một số kết quả nghiên cứu trên thế giới và trong nước cho thấy xử lý bằng peroxide hydrogen (H2O2) có tác dụng làm tăng độ ngọt của dưa lưới nhờ kích thích cơ chế phản hồi tự bảo vệ của cây và tăng nồng độ các chất thẩm thấu trong đó có glycinebetaine, tăng hoạt tính các enzyme chịu hạn và tăng hàm lượng đường. Mặt khác, chất điều hòa sinh trưởng aminoethoxyvinylglycine (AVG) cũng được nghiên cứu và ứng dụng để làm chậm quá trình chín và tăng cường độ chắc của quả. Hiện Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển nông nghiệp Công nghệ cao cũng xử lý bằng H2O2 ở nồng độ 1-5 ppm khi dưa bắt đầu tạo lưới.

Dưa nên được thu hoạch đúng thời điểm dựa trên chỉ số chín (dựa vào các yếu tố như thời gian từ lúc trồng, độ tạo lưới, độ nứt của cuống) để quả đạt chất lượng tốt nhất khi đến tay người dùng, kéo dài thời gian tồn trữ.

trai-dua-luoiThời điểm nứt cuống – 58 ngày. trai-dua-luoi.Thời điểm đứt cuống – 65 ngày.

Trái dưa lưới sau khi thu hoạch thường chứa các loại nấm bệnh như Fusarium, Geotrichum, Rhizopus hoặc các vi khuẩn gây bệnh như Salmonella spp, E. Coli nên phải được xử lý trước khi đóng gói, bảo quản hoặc đưa ra thị trường. Một số kết quả nghiên cứu trên thế giới tập trung vào xử lý bằng dung dịch H2O2 nồng độ từ 10 – 50 ppm, chlorine nồng độ 100 ppm, nhúng quả bằng nước nóng và các hóa chất như sulphat đồng, chlorine, borat natri. Hoặc sử dụng màng bao sinh học, kiểm soát thành phần không khí, khí ethylene, v.v… Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển nông nghiệp Công nghệ cao hiện xử lý bằng chlorine ở nồng độ 50 – 100 ppm.

Ở Nhật Bản, trước ngày thu hoạch, dưa được dán nhãn đã đánh số và thu hoạch trong khoảng 14 ngày; bảo quản ở 2oC trong 2 tuần và trước khi xuất bán, nâng nhiệt độ lên 20oC trong 1 tuần rồi để ở nhiệt độ phòng trong 3 giờ nhằm hạn chế sốc nhiệt.
Việt Nam có rất ít nghiên cứu công nghệ bảo quản dưa lưới sau thu hoạch. Thực tế là dưa được tiêu thụ trong thời gian ngắn, thường bảo quản ở nhiệt độ thường nên thời gian bảo quản ngắn, chất lượng giảm nhanh, không vận chuyển và tiêu thụ được ở thị trường xa.
Nghiên cứu dưa lưới qua thông tin sáng chế
Theo cơ sở dữ liệu sáng chế (SC) Wipsglobal, đăng ký SC liên quan đến dưa lưới đầu tiên vào năm 1935, đến năm 2013 có 332 SC liên quan đến kỹ thuật trồng trọt – thu hoạch – bảo quản dưa lưới, tập trung nhiều nhất là từ năm 2000 đến nay với 270 SC, chiếm 81% tổng lượng SC (BĐ1). Các nước có nhiều đăng ký SC liên quan đến dưa lưới là ba nước châu Á gồm Trung Quốc (CN) – chiếm tới 56% tổng lượng SC, kế đến là Hàn Quốc (KR), Nhật Bản (JP), rồi đến Mỹ (US) và Nga (RU) (BĐ2). Các SC liên quan đến kỹ thuật trồng, chăm sóc dưa lưới chiếm 69% và liên quan đến thu hoạch và bảo quản chiếm 31% trên tổng lượng SC (BĐ3). Các SC liên quan đến kỹ thuật trồng, chăm sóc dưa lưới tăng mạnh theo thời gian thể hiện sức hút của dưa lưới đối với các nhà nghiên cứu và người tiêu dùng. SC về các phương pháp thu hoạch, bảo quản có tăng giảm qua các thời kỳ, tuy nhiên, trong 5 năm vừa qua, lượng SC thuộc lĩnh vực này tăng đột biến (BĐ4) cho thấy tầm quan trọng của công nghệ sau thu hoạch dưa lưới để đáp ứng nhu cầu bảo quản, phân phối trên thị trường.

Theo các diễn giả trong buổi “Báo cáo phân tích xu hướng công nghệ” tháng 07/2014 tại Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ TP. HCM (CESTI) với chuyên đề “Sản xuất rau quả ứng dụng công nghệ cao – Mô hình nhà kính nhà lưới(nhà màng)” cho biết thị trường dưa lưới thế giới cũng như trong nước cầu lớn hơn hẵn cung. Hiện chỉ có vài công ty ở phía Nam sản xuất dưa lưới nhưng quy mô nhỏ và tiêu chuẩn sản xuất chưa cao nên chưa thể đáp ứng cho các thị trường như Nhật Bản (giá gấp đôi trong nước) mà chỉ có thể cung cấp một phần nhu cầu trong nước, tiêu thụ chủ yếu tại các siêu thị.

CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT !