>
0916888300

Mụn dừa chưa qua xử lý có thể làm chết cây rau mầm và cách phân biệt mụn dừa đã qua xử lý

Mùn dừa (cocopeat), chỉ xơ dừa từ lâu đã chứng minh được vai trò quan trọng của nó trong nền nông nghiệp truyên thống cũng như nông  nghiệp công nghệ cao, nhưng không phải loại mùn dừa nào cũng có thể dùng để trồng rau mầm được, nếu bạn không biết cách phân biệt giữa mùn dừa đã qua xử lý và chưa qua xử lý thì khả năng cây rau mầm sẽ phát triển còi cọc chậm lớn và năng xuất kém rất cao. Vậy làm cách nào để phân biệt mùn dừa đã qua xử lý và mùn dừa tươi (mùn dừa chưa qua xử lý). Bài viết dưới đây sẽ cho các bạn một cách hiểu khái quát nhất để lựa chọn giá thể trồng rau mầm.

Phân biệt mùn dừa đã qua xử lý và tác hại khi sử dụng mùn dừa chưa xử lý

Từ vỏ trái dừa người ta có thể phân tách ra 2 phần 1 là phần xơ dừa ( chỉ xơ dừa ) dùng để lót nền truồng trại hay làm giá thể trồng phong lan, 2 là và mụn xơ dừa (cocopeat).

Ảnh minh họa :Chỉ xơ dừa

Ảnh minh họa: Mụn dừa

Đây là loại nguyên liệu phục vụ rất tốt cho nông nghiệp, nhất là nông nghiệp công nghệ cao. Tuy nhiên mùn xơ dừa ( chiếm 70% trọng lượng vỏ dừa) sau khi được tách ra khỏi vỏ dừa. Mùn dừa tươi ( chưa được xử lý ) có chứa 2 chất quan trọng ảnh hưởng lớn đến bộ rể cây rau mầm, nhiều nhất là 2 chất Tanin (chất chát có nhiều trong trà, mụn dừa, … Tan trong môi trường nước) và Lignin (chất chát chỉ hòa tan trong môi trường kiềm). Hai thành phần này làm tắc mọi đường hút – hít chất dinh dưỡng của rể cây mầm, khó phân hủy. Nếu sử dụng trực tiếp sẽ làm cây còi cọc, chậm phát triển hoặc ngộ độc cho cây mầm dẫn đến chết cây.

Mùn dừa (cocopeat) đã qua xử lý là một giá thể hoàn toàn hữu cơ, sản xuất từ trái dừa.

Mụn dừa đã qua xử lý chất Chát, Lignin là loại giá thể có ích cho cây trồng. Là chất nền tuyệt vời cho sự phát triển của rễ cây, làm tăng độ phì nhiêu, vi sinh, vi lượng và các chất hưu cơ cho đất. Do đó, mụn dừa đã được xử lý sẽ làm tăng công suất của vùng đệm. Nhằm giúp cây trồng chống chịu được khi thiếu phân và nước trong thời gian ngắn. Nên mụn dừa được sử dụng rất nhiều trong thành phần của đất sạch, hay giá thể trồng rau và hoa. Bài viết này sẽ mô tả chính xác quy trình xử lý mùn dừa tươi

Có thể bạn sẽ cảm thấy quy trình xử lý phức tạp và mất thời gian. Nhưng với quy mô công nghiệp thì mụn dừa sẽ được cho vào các hồ chứa để xử lý. Với khối lượng xử lý có thể lên đến hàng trăm tấn trên ngày. Nên chi phí và thời gian xử lý sẽ giảm đi rất nhiểu.

Làm thế nào để phân biệt mụn dừa (cocopeat) đã qua xử lý và mụn dừa chưa xử lý

Hiện tại mụn dừa thường được bày bán trên thị trường bằng các bao tái sử dụng hoặc bao bì không có nhãn mác, xuất xứ. Người mua chỉ dựa vào thông tin của người bán để biết đâu là mụn dừa đã qua xử lý hay chưa qua xử lý, Nên rất khó phân biệt và thường xảy ra tình trạng treo đầu dê bán thịt chó. Vậy đâu là giải pháp để phân biệt mùn dừa đã qua xử lý và chưa qua xử lý. Nông Trại Rau Mầm Ngon Ngon sẽ liệt kê một số giải pháp nhận biết sau đây.

– Màu sắc, cảm quan: Mùn dừa chưa xử lý thường có màu vàng nhạt (  màu của vỏ dừa tươi ) và cầm trên tay rất khô, mùn dừa đã qua xử lý cho màu nâu đỏ và có độ ẩm rất cao (do được ngâm và thau rửa nước sạch nhiều lần, cho khả năng ngậm nước rất tốt). Một số nơi sử dụng cách ngâm mụn dừa vào nước nếu thấy nước ra màu nâu đỏ thì là mụn dừa chưa xử lý. Tuy nhiên một số loại mùn dừa đã qua xử lý khi ngâm vẫn cho nước màu nâu vì họ chỉ cần xử lý đạt tiêu chuẩn mà thôi. Nên cách này chỉ cảm nhận bằng cảm quan chứ chưa thật sự chính xác.

Ảnh minh họa : Phân biệt mùn dừa đã qua xử lý và chưa qua xử lý để trồng rau mầm

– Định tính: Mùn dừa chưa xử lý khả năng hấp thụ nước kém còn mùn dừa đã được xử lý giữ nước tốt.
– Định lượng: Sử dụng 2 chỉ tiêu là dộ dẫn điện (EC) và chỉ tiêu pH (chỉ tiêu rất quan trọng của đất trồng) để đánh giá mùn dừa.
Mùn dừa chưa xử lý : Độ ẩm: 20% – EC: > 2.5 – PH: 5.5 – 6.5
Mùn dừa đã qua xử lý : Độ ẩm: 20%   EC: ≤ 0.5- PH: 6  – 7

Mụn dừa (cocopeat) đã qua xử lý

Bằng phương pháp dùng máy để định tính này thì khả năng cho Bà con Nông dân mua được đúng loại mùn dừa là cao nhất, nhưng không phải ai cũng biết sử dụng máy đo và có điều kiện để mua, cho nên việc mua được đúng loại mùn dừa đã qua xử lý vẫn phụ thuộc vào cái tâm của người bán, hoặc tìm đến các cơ sở lớn có uy tín về vật tư nông nghiệp trên địa bàn Bà con mình đang canh tác.

Mụn dừa (cocopeat) – đất sạch xuất khẩu trồng rau sạch

Đất sạch Eco xuất khẩu của Nguồn Sinh Thái được sản xuất từ 100% từ mụn dừa được xử lý theo qui trình kỹ thuật được giám sát chặt chẽ, đảm bảo các chỉ tiêu xuất khẩu sang các nước khó tính nhất (Hàn Quốc,…).

Mụn dừa (cocopeat) sau khi được đưa về nhà máy Nguồn Sinh Thái sẽ được sàn lọc kỹ lưỡng nhằm loại bỏ tất cả chỉ xơ còn lại trong mụn dừa chỉ giữ lại phần hạt mụn chứa nhiều dinh dưỡng cho cây trồng.

cocopeat

Mụn dừa xuất khẩu tại nhà máy Nguồn Sinh Thái sẽ được xử lý luôn đảm bảo các chỉ tiêu:

  • Độ ẩm: 20%
  • EC:  0.5
  • Ph: 6.0 – 6.5

dưa lưới

Mụn dừa (cocopeat) xuất khẩu được sử dụng trong nông nghiệp hữu cơ theo tiêu chuẩn Organic, G.A.P

Đất sạch Eco xuất khẩu

Đạt top 50 sản phẩm dịch vụ được người tiêu dùng tin cậy năm 2014

Đạt danh hiệu Doanh nghiệp mạnh tiêu biểu – sản phẩm chất lượng hội nhập năm 2017

LIÊN HỆ TƯ VẤN, BÁO GIÁ ĐẤT SẠCH ECO
Hotline: 0916.888.300

 

Kỹ thuật trồng dưa lưới ứng dụng công nghệ cao với giá thể xơ dừa

Sản xuất và tiêu thụ rau quả trên thế giới và tại Việt Nam không chỉ quan trọng về mặt kinh tế mà còn là vấn đề sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người tiêu dùng. Đặc biệt những loại rau ăn quả mang lại giá trị kinh tế to lớn và thúc đẩy các hướng nghiên cứu mà dưa lưới là một trong số đó.

Dưa lưới thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae) là rau ăn quả có thời gian sinh trưởng ngắn, trồng được nhiều vụ trong năm với năng suất khá cao; có nguồn gốc từ Ấn Độ và châu Phi; Ai Cập là nơi trồng đầu tiên, sau đó là Hy Lạp, La Mã. Hiện nay dưa lưới được trồng khắp nơi trên thế giới, chủ yếu bán tươi và được xem là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao. Không những thế, thành phần của dưa lưới có chứa chất chống oxy hóa dạng polyphenol, có khả năng phòng chống ung thư và tăng cường hệ miễn dịch, nhiều chất xơ nên có tác dụng nhuận trường, chống táo bón và là nguồn phong phú beta-carotene, acid folic, kali và vitamin C, A giúp điều hòa huyết áp, ngừa sỏi thận, lão hóa xương, …
Ở nước ta, hiện có nhiều loại dưa lưới. Ngoài các giống dưa lưới truyền thống được trồng từ lâu như dưa trắng Hà Nội, dưa mật Bắc Ninh, dưa vàng Hải Dương trái nhỏ, thơm, ngọt, thì những năm gần đây, Công ty Giống cây trồng Nông Hữu đã đưa vào sản xuất một số giống lai F1 nhập nội cho năng suất cao (35 tấn/ha), thơm ngon, độ đường (Brix) cao từ 15-18 độ, quả to, màu sắc phong phú, chống chịu một số bệnh nứt dây và thối vi khuẩn. Chu Phấn và Taki là hai giống đã được khảo nghiệm và đánh giá phù hợp với điều kiện nhà màng. Taki có độ Brix cao, có khả năng kháng bệnh tốt hơn nên được khuyến khích trồng nhiều hơn. Một số giống dưa lưới được lai tạo phổ biến như Dưa Vân là dưa ưu thế lai F1 do Công ty Vimorint Cộng hòa Pháp lai tạo và sản xuất; dưa lưới Hami (Cucumis melo var. saccharinus) có nguồn gốc từ Tân Cương, Trung Quốc…

Một số giống dưa lưới phổ biến tại Việt Nam 

Công nghệ trồng dưa lưới của Khu Nông nghiệp Công nghệ cao TP.HCM

Dựa trên những kết quả nghiên cứu của thế giới về chế độ dinh dưỡng, kỹ thuật bấm ngọn, chế độ tưới, mật độ trồng, v.v… Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển nông nghiệp Công nghệ cao (thuộc AHTP – Khu Nông nghiệp Công nghệ cao TP.HCM) đã có những nghiên cứu đưa ra quy trình canh tác, đồng thời áp dụng quy trình VietGAP để sản xuất dưa lưới sạch, năng suất gấp 3 thông thường và được các hệ thống siêu thị ưa chuộng. Quy trình trồng dưa lưới tại AHTP nghiên cứu trong nhà màng trên giá thể, áp dụng phương pháp tưới nhỏ giọt đạt hiệu quả cao và sẵn sàng chuyển giao với các khâu căn bản là giống, cây con, giá thể, trồng và chăm sóc.

Chuẩn bị cây con và giá thể

Sử dụng khay ươm cây thường bằng vật liệu xốp (50 lỗ/khay) để gieo hạt. Giá thể gieo hạt là mụn xơ dừa đã được xử lý chất chát (tanin), phân hữu cơ (trùn quế hoặc phân chuồng) đã được xử lý bằng tricoderma và tro trấu phối trộn theo tỷ lệ tương ứng là 70% + 20% + 10%, rồi cho vào đầy lỗ mặt khay và tiến hành gieo 1 hạt/lỗ. Sau đó tưới nước giữ ẩm hằng ngày, khay ươm được đặt trong nhà ươm có che mưa và lưới chắn côn trùng. Khi cây xuất hiện lá thật thứ nhất thì phun phân bón lá Growmore 30-10-10, nồng độ 1 g/lít nước.

Cách vào giá thể trong khay xốp gieo hạt.

Hạt dưa lưới sau gieo 5 ngày.

 
bau-uon-cay-gia-the-xo-duaDạng trồng bằng túi nilon trắng kích thước 40 cm x 40 cm, đục lỗ ở đáy túi. gia-the-xo-dua-trong-dua-luoiDạng trồng luống có kích thước cao 30 cm, rộng 30 cm và dài 20 – 30 m.

 

Trồng và chăm sóc

Nên trồng vào buổi chiều mát, đặt cây nhẹ nhàng để tránh tổn thương cây con, không nén quá chặt, trồng xong phải tưới nước ngay. Mật độ và khoảng cách trồng vào mùa khô là hàng kép kiểu nanh sấu, đạt 2.500-2.700 cây/1.000 m2; mùa mưa trồng hàng kép đạt 2.200 – 2.500 cây/1000 m2.
trong-bang-tui-xo-duaTrồng bằng túi nilon. trong-bang-luong-xo-duaTrồng bằng luống.

Tưới nước: sử dụng giếng khoan hay nước sông suối, pH từ 6 -7, không mặn, không phèn.

Phân bón như KNO3, MgSO4, K2SO4, (NH4)2SO4, Ure, KH2PO4, Ca(NO3)2 thường được hòa vào nước thành dung dịch dinh dưỡng tưới cây, đảm bảo đủ các nguyên tố cần thiết cho sinh trưởng và phát triển là K, N, P, S, Ca, Mg. Dung dịch dinh dưỡng và nước tưới được cung cấp đồng thời qua hệ thống tưới nhỏ giọt có nồng độ phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng theo từng giai đoạn sinh trưởng của cây.

Khi trồng được 7 – 10 ngày, bắt đầu treo dây cố định cây, đến giai đoạn ra hoa tiến hành thụ phấn bằng ong hoặc thủ công. Mỗi cây để lại từ 1 – 4 quả, sau đó tỉa hết cành nách tạo thông thoáng và hạn chế tiêu hao dinh dưỡng. Khi quả có đường kính từ 2 – 4 cm (khoảng 40 ngày sau trồng) thì hãm ngọn để tập trung dinh dưỡng nuôi quả.

ong-thu-phan-dua-luoi ong-thu-phan-dua-luoi1
Sử dụng ong mật thụ phấn cho dưa lưới trồng trong nhà màng.
 
bam-ngon-dua-luoiBấm ngọn chính khi cây được 23 – 25 lá.
bam-ngon-dua-luoi.
Bấm ngọn bên, bấm chừa lại 2 lá.


Loại sâu hại dưa lưới trồng trong nhà màng chủ yếu là bọ trĩ (Thrips palmi Karny) và bọ phấn (Bemisia tabaci). Bọ trĩ phát triển mạnh trong điều kiện thời tiết nóng và khô, gây hại nặng giai đoạn cây con đến ra hoa, đậu trái. Bọ phấn hoạt động vào sáng sớm và chiều mát, hút nhựa làm cây có thể bị héo, ngã vàng và chết; truyền các bệnh virus. Để phòng, trừ có thể dùng bẫy dính; thiên địch nhện nhỏ (Amblyseius cucumber), bọ xít (Orius sauteri và Orius strigicolly), phun thuốc bảo vệ thực vật; vệ sinh vườn trồng, v.v…

bo-tri-hai-dua-luoiThành trĩ (Thrips palmi Karny). bọ-phan-hai-dua-luoiThành trùng Bọ phấn (Bemisia tabaci).

Một số bệnh phổ biến gây hại dưa lưới như bệnh phấn trắng do nấm Erysiphe cichoracearum De Candolle hại lá, thân, cành ngay từ thời kỳ cây con; bệnh sương mai giả do nấm Pseudoperonospora cubensis, gây hại trên tất cả các bộ phận nhưng phổ biến nhất là lá; bệnh nứt thân chảy nhựa do nấm Mycosphaerella melonis, gây hại chủ yếu trên thân, đôi khi trên lá và cuống quả, gây nứt, chảy nhựa, cây có thể bị khô chết. Cách phòng trừ là vệ sinh đồng ruộng, thu dọn sạch tàn dư thân lá bị bệnh, tiêu diệt cỏ dại, mật độ trồng hợp lý, bón phân cân đối N-P-K; phun thuốc kịp thời khi phát hiện bệnh,…

 

benh-phan-trang-tren-dua-luoi
Triệu chứng của bệnh phấn trắng (Erysiphe cichoracearum).
benh-phan-trang-tren-dua-luói
Triệu chứng của Mycosphaerella melonis.

Đánh giá hiệu quả kinh tế

Đánh giá hiệu quả của mô hình trồng dưa lưới trong nhà màng áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt dựa trên kết quả thực tế tính trên 1.000 m2, thời gian của 1 vụ trồng là 70 ngày.
Hai khoản đầu tư quan trọng là cơ sở vật chất:
• Nhà màng: 400.000 đồng/m2 x 1000 m2= 400.000.000 đồng. Khấu hao trong 10 năm.
• Hệ thống tưới nhỏ giọt: 30.000.000 đồng. Khấu hao trong 5 năm.
chi-phi-trong-dua-luoi
(Số liệu thời điểm nghiên cứu nên mang tính tham khảo)

Công nghệ xử lý, đóng gói, bảo quản và chế biến sau thu hoạch 

Dưa lưới chịu nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng về cảm quan cũng như dinh dưỡng, tỉ lệ hư hỏng, thời gian bảo quản sau thu hoạch. Các yếu tố bên trong là do dưa sau thu hoạch vẫn tiếp tục một số quá trình sinh lý, sinh hóa như hô hấp, thoát hơi nước, sản sinh khí ethylene, quá trình chín, nấm bệnh,… làm dưa bị héo, giảm khối lượng chất khô, vỏ, thịt quả mềm đi, không còn độ giòn và có thể bị hư hỏng hoàn toàn; giảm thời gian bảo quan; dễ bị tổn thương cơ học khi vận chuyển đi xa,… Những yếu tố bên ngoài cũng tác động không nhỏ đến thời gian bảo quản và tỉ lệ hư hỏng như nhiệt độ, độ ẩm không khí, hàm lượng oxy, khí ethylene, hàm lượng cacbonic, nấm bệnh, vi khuẩn xâm nhiễm bề mặt.
Để khắc phục, một số biện pháp xử lý trên cây ở giai đoạn cận thu hoạch nhằm nâng cao chất lượng dưa sau thu hoạch. Một số kết quả nghiên cứu trên thế giới và trong nước cho thấy xử lý bằng peroxide hydrogen (H2O2) có tác dụng làm tăng độ ngọt của dưa lưới nhờ kích thích cơ chế phản hồi tự bảo vệ của cây và tăng nồng độ các chất thẩm thấu trong đó có glycinebetaine, tăng hoạt tính các enzyme chịu hạn và tăng hàm lượng đường. Mặt khác, chất điều hòa sinh trưởng aminoethoxyvinylglycine (AVG) cũng được nghiên cứu và ứng dụng để làm chậm quá trình chín và tăng cường độ chắc của quả. Hiện Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển nông nghiệp Công nghệ cao cũng xử lý bằng H2O2 ở nồng độ 1-5 ppm khi dưa bắt đầu tạo lưới.

Dưa nên được thu hoạch đúng thời điểm dựa trên chỉ số chín (dựa vào các yếu tố như thời gian từ lúc trồng, độ tạo lưới, độ nứt của cuống) để quả đạt chất lượng tốt nhất khi đến tay người dùng, kéo dài thời gian tồn trữ.

trai-dua-luoiThời điểm nứt cuống – 58 ngày. trai-dua-luoi.Thời điểm đứt cuống – 65 ngày.

Trái dưa lưới sau khi thu hoạch thường chứa các loại nấm bệnh như Fusarium, Geotrichum, Rhizopus hoặc các vi khuẩn gây bệnh như Salmonella spp, E. Coli nên phải được xử lý trước khi đóng gói, bảo quản hoặc đưa ra thị trường. Một số kết quả nghiên cứu trên thế giới tập trung vào xử lý bằng dung dịch H2O2 nồng độ từ 10 – 50 ppm, chlorine nồng độ 100 ppm, nhúng quả bằng nước nóng và các hóa chất như sulphat đồng, chlorine, borat natri. Hoặc sử dụng màng bao sinh học, kiểm soát thành phần không khí, khí ethylene, v.v… Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển nông nghiệp Công nghệ cao hiện xử lý bằng chlorine ở nồng độ 50 – 100 ppm.

Ở Nhật Bản, trước ngày thu hoạch, dưa được dán nhãn đã đánh số và thu hoạch trong khoảng 14 ngày; bảo quản ở 2oC trong 2 tuần và trước khi xuất bán, nâng nhiệt độ lên 20oC trong 1 tuần rồi để ở nhiệt độ phòng trong 3 giờ nhằm hạn chế sốc nhiệt.
Việt Nam có rất ít nghiên cứu công nghệ bảo quản dưa lưới sau thu hoạch. Thực tế là dưa được tiêu thụ trong thời gian ngắn, thường bảo quản ở nhiệt độ thường nên thời gian bảo quản ngắn, chất lượng giảm nhanh, không vận chuyển và tiêu thụ được ở thị trường xa.
Nghiên cứu dưa lưới qua thông tin sáng chế
Theo cơ sở dữ liệu sáng chế (SC) Wipsglobal, đăng ký SC liên quan đến dưa lưới đầu tiên vào năm 1935, đến năm 2013 có 332 SC liên quan đến kỹ thuật trồng trọt – thu hoạch – bảo quản dưa lưới, tập trung nhiều nhất là từ năm 2000 đến nay với 270 SC, chiếm 81% tổng lượng SC (BĐ1). Các nước có nhiều đăng ký SC liên quan đến dưa lưới là ba nước châu Á gồm Trung Quốc (CN) – chiếm tới 56% tổng lượng SC, kế đến là Hàn Quốc (KR), Nhật Bản (JP), rồi đến Mỹ (US) và Nga (RU) (BĐ2). Các SC liên quan đến kỹ thuật trồng, chăm sóc dưa lưới chiếm 69% và liên quan đến thu hoạch và bảo quản chiếm 31% trên tổng lượng SC (BĐ3). Các SC liên quan đến kỹ thuật trồng, chăm sóc dưa lưới tăng mạnh theo thời gian thể hiện sức hút của dưa lưới đối với các nhà nghiên cứu và người tiêu dùng. SC về các phương pháp thu hoạch, bảo quản có tăng giảm qua các thời kỳ, tuy nhiên, trong 5 năm vừa qua, lượng SC thuộc lĩnh vực này tăng đột biến (BĐ4) cho thấy tầm quan trọng của công nghệ sau thu hoạch dưa lưới để đáp ứng nhu cầu bảo quản, phân phối trên thị trường.

Theo các diễn giả trong buổi “Báo cáo phân tích xu hướng công nghệ” tháng 07/2014 tại Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ TP. HCM (CESTI) với chuyên đề “Sản xuất rau quả ứng dụng công nghệ cao – Mô hình nhà kính nhà lưới(nhà màng)” cho biết thị trường dưa lưới thế giới cũng như trong nước cầu lớn hơn hẵn cung. Hiện chỉ có vài công ty ở phía Nam sản xuất dưa lưới nhưng quy mô nhỏ và tiêu chuẩn sản xuất chưa cao nên chưa thể đáp ứng cho các thị trường như Nhật Bản (giá gấp đôi trong nước) mà chỉ có thể cung cấp một phần nhu cầu trong nước, tiêu thụ chủ yếu tại các siêu thị.

Công nghệ đất sạch đầu tiên của Việt Nam

Từ chất thải gây ô nhiễm, anh đã biến chúng thành đất sạch, được Cơ quan nông sản thực phẩm Singapore, AVA chứng nhận đạt chuẩn chất lượng cho ngành nông nghiệp sạch. Tài tình hơn, anh tận dụng cả chất thải chát từ mụn dừa vốn đang “hoành hành” các dòng sông ở Bến Tre để làm ra đất sinh học. Với sáng tạo này, anh Võ Thanh Liêm (Q.10, TP.HCM) nhận giải thưởng của Ngân hàng Thế giới về môi trường, giải thưởng Sáng tạo khoa học kỹ thuật toàn quốc, giải Nhất Sáng tạo khoa học kỹ thuật TP.HCM năm 2006 và các giấy chứng nhận, huy chương vàng…

CÔNG NGHỆ ĐẤT SẠCH NHƯ THẾ NÀO?

Ở các quốc gia tiên tiến, đất sạch rất quan trọng với nền nông nghiệp tạo ra những sản phẩm sạch, an toàn. Đất sạch còn là mặt hàng xuất khẩu của nhiều nước như Hà Lan, Úc, Canada… Thành công của anh Võ Thanh Liêm đánh dấu tiềm năng lớn xuất khẩu đất sạch, đồng thời rất có ý nghĩa với nền nông nghiệp kỹ thuật cao mà Việt Nam đang hướng tới.

Từ chất thải mụn dừa bị tuôn đổ xuống các dòng sông hàng trăm tấn mỗi ngày, anh đã tìm cách xử lý chúng bằng công nghệ vi sinh thành chất trồng tốt. Loại đất này có ưu điểm: tơi xốp, thoáng khí, dễ thấm nước, giữ ẩm cao, có tính kháng khuẩn, hạn chế mầm bệnh giúp rễ cây tăng trưởng và phát triển tốt. Đất sạch không mùi, không độc hại môi trường, sau thời gian sử dụng trở nên “mùn hóa” (phân bón hữu cơ). Hiện đất sạch thương hiệu DASA của anh Liêm được sử dụng rộng rãi ở nhiều tỉnh thành để trồng rau an toàn, rau mầm dinh dưỡng, hoa kiểng, trồng hoa cỏ trang trí tiểu cảnh sân vườn, nhà hàng, khách sạn…

Anh còn nghiên cứu làm ra loại đất cao cấp hơn: đất sinh học. Đây là thành tựu mới, được ứng dụng để cải thiện, phục hồi đất hoang hóa bạc màu, tăng độ phì của đất. Thành công này góp phần trong việc cải tạo đất suy kiệt, bạc màu do khai thác cạn kiệt. Đất sinh học được mệnh danh là “thuốc bổ” cho đất, giúp phục hồi hệ vi sinh vật, tăng khả năng trao đổi ion, cây dễ hấp thu dinh dưỡng. Với những ưu điểm mới, đất sinh học phù hợp các loại đất trồng pha cát, pha sét dùng cho vườn ươm, trang trại, hoa kiểng. Đặc biệt, còn được dùng chống xói mòn, sạt lở đất vùng đồi núi. Ở nhiều nước, đất sinh học được trộn với hạt cỏ gieo trồng thành các thảm cỏ chống sạt lở hay phủ xanh công viên.

 

VƯƠN LÊN TỪ TAY TRẮNG

Để trở thành “ông chủ” đất sạch và đất sinh học đầu tiên của Việt Nam, anh đã trải bao thăng trầm. Sinh ra ở Tiền Giang, tốt nghiệp kỹ sư hóa, anh lập nghiệp ở Sài Gòn. Những năm 80 nghèo khó, người trẻ nhập cư này luôn thắc thỏm, trầy trật với cái ăn. Ngoài giờ làm, anh tranh thủ gia công làm kem giặt, dệt may… Nhờ tích góp, anh mua lại xưởng làm ván ép.” – anh Liêm nhớ lại.

Sức trẻ không nản lòng, anh cứ “lăn lóc” vươn lên. Một lần tìm nguồn nguyên liệu mới làm ván ép, anh tình cờ đến với phế thải mụn dừa. Nhưng phí xử lý cao, khó cạnh tranh, anh nghĩ ngay đến chuyện biến mụn dừa thành phân. Suốt gần năm năm trời, sau đó, anh xuống tận Bến Tre mua mụn dừa, phân tích, xử lý rồi đem thử nghiệm. Anh lập hẳn vườn trồng và đưa bạn bè các nơi dùng thử loại đất nhẹ xốp, không dơ tay mà anh gọi là “đất sạch”. Năm 2001, anh công bố sản phẩm khiến nhiều người ngạc nhiên. Năm sau anh nhận được 2 giải thưởng Sáng tạo khoa học kỹ thuật toàn quốc và Tp. Hồ Chí Minh.

Trong khi đó, nhiều cơ sở sản xuất các sản phẩm từ mụn dừa ở Bến Tre gặp phải vấn đề xử lý chất thải. Xử lý chất chát trong chất thải tốn kém nên hầu hết xả thẳng xuống sông. Nước sông ngầu đỏ, đen ngòm, gây thiệt hại nuôi trồng thủy sản. Việc người dân không có nước sinh hoạt từng được báo động ở Bến Tre. Anh Liêm lặng lẽ nghiên cứu, và lần nữa thành công: anh đã tìm ra giải pháp tái sử dụng chất thải chát sau khi xử lý mụn dừa, biến chúng thành đất sinh học. Ngay sau đó anh được giải thưởng về môi trường của Ngân hàng thế giới, giải thưởng Sáng tạo khoa học kỹ thuật toàn quốc, giải thưởng Lao động sáng tạo của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, bằng khen của UBND TP.HCM, cúp vàng, huy chương vàng,…

Ở tuổi 48, Võ Thanh Liêm (Công ty đất sạch DASA: 106 Nguyễn Ngọc Lộc, P.14, Q.10, TP.HCM. ĐT: 0918.180639) bắt đầu kế hoạch làm ăn mới từ cây dừa. Khoảng cuối năm 2006, nhà máy sản xuất các sản phẩm từ dừa sẽ hoạt động tại Bến Tre với vốn đầu tư 10 tỷ đồng. Ngoài hai sản phẩm đất sạch và đất sinh học, Công ty cổ phần DASA chuẩn bị đưa ra thị trường ván ép mụn dừa, xirô dừa, vật liệu cách điện, vật liệu xây dựng từ dừa… Anh Liêm sẵn sàng hợp tác để phát triển mạnh hơn các sản phẩm này.